Thiền sư Thích Nhất Hạnh — Hành trạng cuộc đời
⏳ Niên biểu
- 1926 Thầy sinh tại Huế, tục danh Nguyễn Xuân Bảo, là hậu duệ của văn hào Nguyễn Du.
- 1942 tháng 7 Thầy vào tập sự tại Tổ đình Từ Hiếu. Sau, thầy thọ giới sa di với Ngài Chân Thật (Thanh Quý) và được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự Phùng Xuân.
- 1947 - 1949 thầy học tại Phật Học viện Báo Quốc. Trong năm 1949, thầy Thích Minh Châu thọ cụ túc giới tại nơi đây, giới đàn Hộ Quốc, Chùa Báo Quốc.
- 1949 Thầy vào Sài Gòn cùng 2 vị sự khác, lập hạnh Bồ tát. Tất cả 3 vị đều cùng chọn 1 chữ Hạnh để khắc ghi chí nguyện, Hạnh ở đây nghĩa là hành động. Thầy Phùng Xuân trở thành Nhất Hạnh, nghĩa là 1 hành động. Có lẽ, theo Thầy, cả 3 vị lúc đó đều thầm cảm niệm tới công đức của Thiền sư Vạn Hạnh, một bậc long tượng của Phật giáo Việt Nam. Vị Tổ khai sơn của chùa Từ Hiếu cũng có 1 chữ Nhất, là Ngài Nhất Định. Trong năm, thầy xuất bản tập thơ đầu tay Tiếng địch chiều thu với bút danh Nhất Hạnh.
- 1950 Thầy đồng sáng lậpTổ đình Ấn Quang với Ngài Thích Thiện Hoa. Trong năm này, Thầy cũng ra mắt tiếp 2 tập thơ Ánh xuân vàng và Thơ Ngụ Ngôn với bút danh Hoàng Hoa.
- 1951 Thầy thọ đại giới tại Hội đồng Giới đàn Ấn Quang
- 1952 Thầy và anh trai tên An cùng lập trường tiểu học Tuệ Quang tại Đà Lạt, là trường tiểu học tư thục đầu tiên do các vị xuất gia Phật giáo điều hành và tổ chức.
- 1954 Thầy làm trở lại chùa Ấn Quang để cùng xây dựng một chương trình đào tạo thực tế hơn cho tăng ni sinh, những vị đang rất hoang mang trước thời cuộc. Kết quả là một chương trình đào tạo với nhiều đổi mới, kết hợp cả nội điển lẫn ngoại điển ra đời. Các sinh viên học xong cũng yên tâm khi bằng cấp được hợp lệ, tương đương với các trường lớp thế tục. Cùng năm, thầy ghi danh vào chương trình Cử nhân văn chương Pháp Việt tại Đại học Văn khoa Sài Gòn
- 1955 Thầy trở Huế lần đầu tiên sau nhiều năm. Đây cũng là lần cuối thầy gặp được song thân.
- 1956 Thầy được bổ nhiệm làm Tổng biên tập Tạp chí Phật giáo Việt Nam trực thuộc Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Thầy thường về tịnh dưỡng, viết báo tại một thất đơn sơ tên là Phương Bối, trong vườn trà của chùa Phước Huệ. Nơi đây thầy cùng những đệ tử học tu đã cùng nhau có những hoạt động như picnic, thể thao, ca hát, vốn không được nhìn thấy ở tu sĩ đương thời.
- 1957 Thầy cùng các cộng sự mua một mảnh đất rừng từ người Thượng trên rừng Đại Lão, cách trung tâm B’lao 10km và cách đầu đèo Bảo Lộc chừng 3km. Nơi đây được thầy lấy tên cũ đặt là Phương Bối, những mong muốn về một chốn tu hành sống động và gần gũi với thiên nhiên cũng từng bước thành hình. 1959 Tờ báo Tạp chí Phật giáo Việt Nam bị đình bản, mẹ thầy qua đời cùng nhiều sự vụ đã ảnh hưởng tiêu cực đến thầy. Thầy về viện Grall điều trị tích cực trong 1 tháng. Sự sa sút về cả thân, tâm của thầy thật trầm trọng. Nhưng đã vô tình giúp thầy tìm thấy được phương cách tự chữa lành thân, tâm dựa trên các pháp hành cổ điển, kết hợp với quan sát, áp dụng theo lối hiện đại của thầy.
- 1961 Thầy nhận Học bổng Fulbright và đến Hoa Kỳ lần đầu, để du học ngành Tỷ Giáo Tôn Giáo tại Chủng viện Thần học Princeton (Princeton Theological Seminary) theo dạng sinh viên dự thính trong 1 chương trình từ năm 1961 đến 1962. Thời gian ở đây, Thầy đã ghi lại rằng ”… in the West that i realized my path” trong Nẻo về của Ý (Fragrant Palm Leaves)
- 1962 Thầy nghỉ hè tại trại Camp Ockanickon tại Medford. Tại đây, Thầy cũng viết xong đoản văn Bông hồng cài áo về gửi bản thảo về Sài Gòn cho những Phật tử thân cận thuộc Đoàn sinh viên Phật tử. Những vị này sau đó đã chép tay 300 bản để gửi tới bằng hữu, đồng đạo cùng những bông hoa trắng hoặc hồng được đính kèm. Rằm tháng 7 cùng năm, Lễ [Bông hồng cài áo] đầu tiên được các vị ấy tự tụ họp tổ chức tại Chùa Xá Lợi. Một thành viên trong đoàn này đã gửi đoản văn trên đến Hòa thượng Thích Đức Tâm đang là Chủ bút của Nguyệt san Liên Hoa thuộc Giáo hội Tăng già Trung Phần. Sau đó, đoản văn được Ngài đăng lên Nguyệt san dưới tựa đề Nhìn kỹ mẹ. Hòa thượng bổn sư của Ngài Thích Đức Tâm là Ngài Thích Trí Thủ đã đọc được và khóc vì cảm động. Cùng năm, thầy cũng viết bản thảo cuốn Nẻo về của ý
- 1962 Sau khi kết thúc việc học. Thầy lưu lại Đại học Columbia để tiếp tục nghiên cứu với sự hướng dẫn của Giáo sư Anton Zigmund-Cerbu. Trong thời gian này, Thầy không chỉ được lợi bởi kho sách Phật giáo khổng lồ tại Butler Library, mà qua đó, còn tiếp cận được với rất nhiều tư liệu triết học và thần học giá trị. Thời gian này, Thầy vẫn rất tích cực trong các cuộc vận động hòa bình cho Việt Nam.
- 1963 Sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu chấn động nước Mỹ. Với sự diễn giải sâu sắc và sự am tường về ngôn ngữ lẫn văn hóa, tôn giáo, sự diễn giải của Thầy đã khiến công chúng Hoa Kỳ, vốn là đa tôn giáo và phần lớn theo Tin Lành hoặc Công Giáo La Mã, hiểu rằng hành động tự thiêu đó là sự dũng cảm hy sinh vì chúng sanh, chứ không phải sự yếu hèn và sợ hãi. Tháng 11, Cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm xảy ra, gián tiếp Cuộc khủng hoảng Phật giáo 1963 đầy tan thương. Vẫn tưởng sau cơn mưa trời lại sáng, tình hình chính trị tại Sài Gòn lại thêm hỗn loạn khi bước vào Thời kỳ quân quản . Tháng 12 cùng năm, Thầy trở về Sài Gòn theo kêu gọi của Hoà thượng Thích Trí Quang. Công cuộc kêu gọi hòa bình dân tộc và Chấn hưng Phật giáo Việt Nam của Thầy lại tiếp tục một chương mới đầy sôi động.
- 1964 Tháng 1, thầy lập Làng tình thương Hoa Tiêu, tiền đề của Trường thanh niên phụng sự xã hội, dựa trên nhóm từ thiện từng làm việc với Sư cô Chân Không tại xóm Mả Lạng. Thầy sáng lập Nhà xuất bản Lá Bối và đồng sáng lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn với Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Minh Châu, đây là tiền thân của Viện đại học Vạn Hạnh. Cùng năm, Lá Bối ra mắt ấn bản đầu tay là quyển Bông hồng cài áo, được in dưới dạng ốm, dài để đọc giả tiện bỏ bì thư dành tặng cho nhau, theo lời Sư cô Chân Không cuốn này và cuốn Đạo phật đi vào cuộc đời là 2 cuốn đầu tiên và bán rất chạy, nên Lá Bối có tiền để in những cuốn tiếp theo. Tháng 11 cùng năm, Trận lụt lịch sử năm Thìn đã xảy ra tại miền Trung, vượt qua nhiều trở ngại của thời cuộc, Thầy cũng những đạo hữu như Nhất Trí, đã đến Quảng Nam cứu trợ. Thương xót trước sự ra đi của hơn 7000 đồng bào tử nạn, Thầy đã nhỏ máu xuống sông Thu Bồn và thành tâm cầu nguyện cho những nạn nhân xấu số.
- 1965 Thầy sáng lập Trường Thanh niên phụng sự xã hội (SYSS). Cùng năm, Đoàn cải lương Thanh Nga dựng vở Bông Hồng Cài Áo và Thầy đã đến dự xem. Trong năm này, Lá Bối cũng ra mắt tập san văn nghệ Giữ thơm quê mẹ vào tháng 7. Có 2 tác phẩm rất nổi tiếng của thầy là Nẻo về của ý và Nói với tuổi hai mươi cũng được công bố lần đầu tiên trên tập san này, qua lối đăng từng kỳ. Lá Bối cũng xuất bản một tập thơ kêu gọi hoa bình mang tên Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện. Tập thơ dường như đạt được những thành công nhất định, khiến Thầy trở thành kẻ ngán đường bất đắc dĩ của những nhân vật theo phái chủ chiến. Về sau, trong cuốn Sen nở trời phương ngoại Thầy đã có một đoạn giảng giải thật sâu sắc về bài thơ Một mũi tên rơi hai cờ huyễn tượng. Tháng 6 cùng năm, Tập thơ Dialogue (Đối thoại Cánh cửa hòa bình) cũng được xuất bản với ấn bản tiếng Anh. Tập thơ này có sự tham gia của những cây bút rất được giới trí thức trẻ đương thời mến mộ như ông Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Hồ Hữu Tường. Cả 2 đầu sách này đều bị chính quyền đương thời tịch thu sau đó vì lý do chính trị.
- 1966 tháng 2 ngày 1 Thầy thành lập Dòng tu Tiếp Hiện, đây nền tảng của Làng Mai về sau. Tháng 5 ngày 1 Thầy nhận Ấn khả từ Ngài Chân Thật (Thanh Quý) tại Tổ đình Từ Hiếu chính thức là 1 vị Thiền sư kế tục Dòng thiền Liễu Quán. Sau khi hay tin Thầy sắp đi Hoa Kỳ, dường như Ngài Chân Thật có linh tính, nên giữ thầy lại và làm lễ truyền đăng. Sau đó, chuyến đi Hoa Kỳ 3 tháng quả thực đã thành 39 năm. Tháng 6 ngày 1 Thầy trở lại Chiacago, Hoa Kỳ theo lời mời của Dr. George Kahin của Đại học Cornell thực hiện một chuỗi các bài thuyết trình về thực trạng Việt Nam cho Khoa Chính trị của trường này. Vào tháng 5, Thầy cũng gặp được ông Martin Luther King Jr lần đầu tại Chiacago. Trong năm này, Thầy cũng đã gặp được nhiều nhà hoạt động hoà bình, tăng sĩ, chính khách nổi tiếng tại Mỹ để vận động cho hoà bình. Ấn bản Anh ngữ của cuốn Hoa sen trong biển lửa cũng được xuất bản với phần lời ngỏ được viết bởi Anh Thomas Merton, một đan sĩ dòng Trappist, một nhà văn về đời tâm linh có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX.
- 1967 Thầy bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa cấm nhập cảnh và buộc phải sống lưu vong tại Pháp. Tháng 5, Thầy lại gặp ông Martin Luther King một lần nữa tại Geneva, trong Hội nghị về Hoà bình trái đất (Pacem in Terris) do Hội đồng Giáo hội Thế giới (WCC) tổ chức.
- 1968 Hòa thượng Bổn sư của Thầy an nhiên thị tịch tại Từ Hiếu
- 1969 Thầy lãnh đạo một phái đoàn đàm phán hòa bình tại Paris. Giai đoạn từ đây đến năm 1975 thầy tích cực đến nhiều nơi để vận động hoà bình và lan toả lối thực hành Phật giáo theo lối phù hợp với đời sống hiện đại của người Tây phương. Ngoài ra, thầy cũng tích cực yểm trợ các hoạt động nhằm giáo dục và nâng cao ý thức bảo vệ môi sinh.
- 1975 Thầy thành lập Làng Hồng tại Ozoir-la-Ferrière miền bắc nước Pháp. Trong năm này, quyển Phép lạ của sự tỉnh thức ra mắt và gây được tiếng vang lớn tại Âu Mỹ.
- 1976 Tháng 12, Thầy được World Conference on Religions and Peace (viết tắt WCRP)- Hội nghị thế giới về Tôn giáo và Hòa bình đề cử làm Giám đốc cho chương trình cứu trợ những thuyền nhân vượt biển, với tên gọi Chương trình máu chảy ruột mềm do chính thầy đặt
- 1998 Chương trình hiểu và thương được khởi động bởi các cựu thành viên SYSS nhằm hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam
- 1982 Thầy thành lập Làng Mai tại Dordogne, phía Nam nước Pháp
- 1983 Lễ Bông hồng cài áo chính thức được tổ chức mỗi hè, theo tinh thần Việt Nam, mỗi người được cài 2 chiếc hoa, dành cho cha và mẹ.
- 1988 tại Linh Thứu, Ấn Độ, Thầy truyền giới Tỳ kheo ni cho Sư cô Chân Không
- 2005 tháng 1 ngày 11 Thầy lần đầu trở về Việt Nam sau 39 năm ra đi
- 2008 Thầy tham dự Vesak tại Hà Nội
- 2014 tháng 11 ngày 11 Thầy bị một cơn đột quỵ nặng tại Bordeaux
- 2018 Thầy trở về Tổ đình Từ Hiếu, Huế an dưỡng
- 2022 tháng 1 ngày 22 Thầy viên tịch tại Tổ đình Từ Hiếu